Chuyện tình cảm động 14 năm chung thủy đợi chờ

Theo PLVN,
Chia sẻ

Biền biệt 14 năm trời không một dòng tin chồng, bà vẫn một lòng trung trinh dù ngày rời xứ biển này ra Bắc nhận nhiệm vụ, bà với ông không hề nói một lời thề hẹn.

Nhắc đến tên tuổi Huỳnh Ba - người thủy thủ trên chuyến tàu không số đầu tiên khai mở tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại, có lẽ ai cũng biết. Và với người đàn ông này, kí ức về một thời kiên trung cũng không thể phai mờ trong ký ức.

Nhưng ít người biết rằng, để chắc niềm tin, “chân cứng đá mềm” bất chấp mọi ngón đòn tra tấn của kẻ thù, ngoài niềm tin bất diệt vào Đảng và cách mạng, ngoài tình yêu Tổ quốc, tình yêu sắt son của người vợ thủy chung đã góp phần giúp ông có thêm nghị lực.
 
Ký ức về chuyến tàu không số đầu tiên

Con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo dẫn vào thôn Nam Ô 3, phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu (Đà Nẵng) trở nên mặn nồng mùi biển trong những ngày nắng hanh hao. Và đến xứ sở nước mắm nổi tiếng này, hỏi nhà ông Huỳnh Ba, ai cũng vui vẻ dẫn đường đến tận nhà.

Đã bước qua cái tuổi 86 nhưng ông Ba vẫn còn khá minh mẫn.Với ông, kí ức về chuyến tàu không số đầu tiên của ông cùng đồng đội nhận nhiệm vụ vượt biển chở 5 tấn vũ khí từ sông Gianh (Quảng Bình) vào bãi Chuối (Thừa Thiên Huế) vào năm 1994 như vừa xảy ra hôm qua.

Trong ngôi nhà tình nghĩa mới được Bộ tư lệnh Hải quân và Đài truyền hình TP. Hồ Chí Minh xây, trao tặng, cựu tù yêu nước Huỳnh Ba chậm rãi kể cho chúng tôi nghe về những ngày tháng vượt biển cả trên chuyến tàu đầu tiên khai mở đường Hồ Chí Minh huyền thoại trên biển gian nan vất vả nhưng rất tự hào.

Quê ở vùng biển bãi ngang xã Duy Hải (huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam), năm 20 tuổi, chàng thanh niên Huỳnh Ba (lúc này có tên khai sinh là Nguyễn Nửa) gia nhập đơn vị vận tải của Đoàn vận tải ủy ban kháng chiến Nam Trung Bộ. Năm 1946, ông được chuyển qua công tác tại đơn vị T08. Đến năm 1950, ông bị thực dân Pháp bắt giam tại nhà lao Đà Nẵng và nhà lao Thừa Thiên Huế. Suốt một thời gian dài dùng đủ ngón đòn tra khảo, không khai thác được gì, địch đành thả ông.

Cuối năm 1959, khi đang làm giao liên ở tuyến Đà Nẵng - Nha Trang - Buôn Mê Thuột, ông được Ban thống nhất Trung ương điều ra Bắc nhận nhiệm vụ vận chuyển vũ khí vào chi viện cho Quân khu V. Chuyến tàu xuất phát tại bến sông Gianh chở 5 tấn vũ khí, được trang bị các ngư cụ như tàu đánh cá. Trên tàu, ngoài ông ra còn có 5 đồng chí khác. “Đêm 30 Tết Canh Tý (năm 1960), nhân có đợt gió mùa Đông Bắc tràn về là cơ hội tốt để tàu ra khơi, cấp trên hạ lệnh cho tàu chúng tôi nhổ neo, rời bến vào đúng đêm giao thừa.

Đêm đầu tiên, tàu rẽ hướng ra hải phận quốc tế với ý định sẽ vòng vào chân đèo Hải Vân cập bến Bãi Chuối (Thừa Thiên Huế). Thế nhưng, ngày hôm sau do gặp sóng to gió lớn, tàu bị gãy tay lái, không điều khiển được nên bị trôi về phía Nam, đến ngày thứ 3 thì trôi vào đảo Lý Sơn. Mọi người trên tàu định lên đảo thì Lý Sơn thì phát hiện có tàu địch đi tuần. Trung úy Nguyễn Bắc, thuyền trưởng quyết định thả tất cả vũ khí trên tàu xuống biển và thống nhất nếu bị giặc bắt thì khai là tàu đánh cá, bị hư nên trôi dạt vào đây. Chiều mùng 4 Tết, cả sáu đồng chí trên tàu bị giặc bắt”, ông Ba nhớ lại.
 
Vợ chồng ông Huỳnh Ba

Rồi ông kể tiếp, sau khi dùng đủ mọi hình thức tra tấn dã man mà vẫn không moi được tin gì, chúng bắt đầu đày anh em đi hết nhà lao này sang nhà lao khác. Từ Lý Sơn, Huế, Đà Nẵng đến nhà lao Gia Định, khám Chí Hòa, Phú Lợi… cuối cùng chúng đày ra Côn Đảo…

Những ngày đó chúng chỉ cho anh em ông mặc độc chiếc quần đùi, nằm co ro trong những chiếc “chuồng cọp”, lại còn bị còng xích chân. Nhưng anh em trước khi bị bắt đã một lòng không khai. Suốt 14 năm ròng rã, tra tấn, đày đọa bọn địch vẫn không thắng được ý chí kiên trung của những người cách mạng. Đến năm 1974, địch mới trả tự do cho những chiến sĩ cách mạng này.

“Hậu phương” 14 năm thủy chung chờ đợi

Trong khi Huỳnh Ba cùng đồng đội bị địch bắt giam, đày đi hết nơi này đến nơi khác thì ở vùng biển dưới chân đèo Hải Vân quan, bà Nguyễn Thị Nghĩa vợ ông cũng đã phải vượt qua mọi lời dụ dỗ rồi đến hăm dọa của kẻ thù. Biền biệt 14 năm trời không một dòng tin chồng, bà vẫn một lòng trung trinh dù ngày rời xứ biển này ra Bắc nhận nhiệm vụ, bà với ông không hề nói một lời thề hẹn.

“Ngày ông ấy đi đứa con thứ 2 vừa được 25 ngày tuổi, đứa đầu thì vừa biết đi chập chững gọi chưa rõ tên cha. Nhiều lần bọn giặc tìm đến tra hỏi “Chồng mày đi đâu?”. Tui trả lời là ông ấy đi đâu muốn biết thì cứ đi tìm. Tui không tìm được vì bận làm ăn nuôi con. Lúc đầu tụi hắn còn dụ dỗ ngon ngọt, sau đó quay sang hăm dọa bắt đi tù. Tui nói nếu bắt tui đi tù thì cứ bắn hai đứa con tui trước rồi bắn tui cũng được. Chớ tui nỏ biết chồng ở mô mà bắt đi tìm”, bà Nghĩa nhớ lại.

Không dò hỏi được tung tích ông Ba, chúng quay sang tung tin với bà Nghĩa rằng chồng bà đã chiêu hồi trở về với giặc hiện đang ở Huế. Rồi chúng khuyên bà đi thăm chồng. Đoán biết được ý đồ bọn chúng, bà nhất quyết không đi. Hàng ngày, bà lặng lẽ với gánh rau xanh, mớ cá tươi và vài chai nước mắm rong ruổi khắp nơi vừa bán kiếm tiền nuôi con vừa làm cơ sở nuôi giấu cách mạng.

“Xa nhau mười mấy năm trời bà có nghĩ rằng ông đã chiêu hồi hoặc hi sinh?”, chúng tôi hỏi. Bà Nghĩa ngước mắt nhìn chồng: “Tính ông ấy tui biết, dù gian khổ thế nào vẫn không đầu hàng đâu. Biền biệt không bắt được tin tức gì, nhiều đêm tui cũng nghĩ đến chuyện ông ấy hi sinh nhưng không hiểu vì sao mỗi lúc như thế bên tai tui nghe rõ mồn một lời ông ấy nói là ông ấy sẽ về”.

Trong cuộc đời với nhiều lần cận kề sinh tử, nhiều thăng trầm, với ông Ba kỷ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời ông là khi quay trở về tìm lại vợ con. Năm 1974, trên chuyến xe đò từ Quảng Nam về Đà Nẵng có hai cha con cùng đi nhưng họ không nhận ra nhau. “Hôm đó đứa con gái đầu của tui đi buôn chuyến ngồi đầu băng ghế còn tui ngồi cuối băng ghế. Khi xe đỗ trả khách, tui với nó cùng về chung một con đường, nó gánh hàng hóa đi trước còn tui mệt nhọc ôm tay nải theo sau.

Về đến tận đầu ngõ, bà Phước (một cơ sở cách mạng từng nuôi giấu tui) la lên: “Hòa! Răng mi không gánh giùm để ba mi ôm đồ nặng rứa?”. Lúc đó hai cha con nhìn nhau ngỡ ngàng, mừng tủi. Đôi chân cứ bước về phía con mà cứ khụy xuống”, ông Ba nói thêm.

Nói đoạn, ông quay sang chúng tôi mà rằng, ông may mắn hơn nhiều đồng đội khác, hòa bình trở về quê còn có vợ con. Cuộc sống dù còn lắm vất vả nhưng chưa bao giờ thiếu tình yêu. Sáu anh em trên chuyến tàu không số ngày đó, giờ đây 5 đồng đội đã thành người thiên cổ, chỉ còn mình ông.

Sau bao nhiêu năm xa cách, giờ ông Ba thảnh thơi sống bên người vợ với tấm lòng thủy chung son sắt cùng kỷ vật là chiếc radio do đồng đội tặng. Tình yêu hơn nửa thế kỷ vẫn vẹn tròn, hai ông bà vẫn quấn quýt bên nhau ngày ngày như thuở đôi mươi, giúp người ta càng thêm hiểu rõ không kẻ thù nào có thể hủy diệt tình yêu.

Chia sẻ